Hóa Ra Mình Cũng Tuyệt Đấy Chứ | Sách Nói Dành Cho Thiếu Nhi
Kể chuyện về kim loại

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyến Thị Xinh
Ngày gửi: 14h:16' 18-12-2025
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyến Thị Xinh
Ngày gửi: 14h:16' 18-12-2025
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Kể chuyện về kim loại
Tác giả: X.I. Venetxki
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục Lục:
Cuốn sách 'Kể chuyện về kim loại' 2
Lời tựa của nhà xuất bản Mir 2
Li - Nhẹ nhất trong số các kim loại 4
Be - Kim loại của kỷ nguyên vũ trụ . 9
Mg - Kim loại “dễ phát khùng” . 15
AL- “Bạc” lấy từ đất sét 21
Ti - Con của đất 29
V- “VITAMIN V” . 36
Cr - Chữ “X” bí ẩn . 41
Mn - Bạn đường muôn thủa của sắt 47
Ni - “Con quỷ đồng” . 53
Cu - Đã từng thay thế đá . 61
Zr – “Trang phục” của những thanh urani 79
Nb - Thứ bốn mươi mốt 84
Mo - Bạn đồng minh của sắt 89
Ag - Kim loại của mặt trăng . 96
Sn - “Cứng” mà lại... mềm .. 104
Ta- Sinh trưởng trong đau khổ . 110
W - Kẻ cho ta ánh sáng . 114
Pt - Sau ba lần khóa . 120
Au – “Vua của các kim loại” – kim loại của các vua . 126
Hg – “Nước bạc” . 136
Pb - Kẻ diệt trừ đế chế La Mã . 142
U - Nhiên liệu của thế kỷ XX .. 148
Cuốn sách 'Kể chuyện về kim loại'
Tác giả của cuốn sách này là X.I. Venetxki. Qua mỗi chương, với vô số các
mẩu chuyện lý thú, và gần gũi với thực tế, tác giả kể cho chúng ta nghe bằng
cách nào người ta tìm ra các kim loại, đã kỳ công tinh chế chúng ra sao, con
đường mà mỗi kim loại xâm nhập vào đời sống, sự đổi ngôi của chúng, cũng
như những đặc tính hữu ích và mới mẻ của chúng dưới vỏ ngoài của các hiện
tượng kỳ lạ, huyền bí.
Dẫn dắt qua các câu chuyện, X.I. Venetxki đã biến một trong lĩnh vực khô
khan "khó nuốt" nhất thành một đề tài cuốn hút, dễ nhớ mà không hề dùng
tới những mô hình hay công thức phức tạp có nguy cơ khiến bạn đọc rối trí.
Và khi đóng trang sách lại, bạn đọc còn nhớ câu chuyện về bà chủ trọ keo
kiệt với những miếng thịt ôi đã bị liti vạch mặt ra sao, hay những vị khách ức
đến phát khóc trong bữa tiệc của hoàng đế Pháp Napoleon III, vì không được
dùng loại thìa nhôm sang trọng, thì ấy là X.I. Venetxki đã thành công.
Kể chuyện về kim loại dẫu được viết ra cách đây hơn một thập kỷ, nhưng nội
dung của nó vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn và mới mẻ cho đến tận ngày
nay.
Bản tiếng Việt mà chúng tôi giới thiệu sau đây được dịch bởi Lê Mạnh
Chiến, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, và Nhà xuất bản Mir,
1989. Trong sách, các tên riêng và địa danh được phiên âm ra tiếng Việt
(nhưng lần dùng đầu tiên được viết bằng tiếng Anh), vì thế, chúng tôi giữ
nguyên cách phiên âm này.
Lời tựa của nhà xuất bản Mir
Kể từ ngày thời kỳ đồ đá chuyển giao lại quyền hành của mình sang cho thời
đại đồ đồng, các kim loại đã phục vụ con người một cách trung thành, giúp
con người xây dựng và sáng tạo, khắc phục thiên tai, khám phá các bí mật
của thiên nhiên, chế tác ra các cơ cấu và máy móc tuyệt diệu.
Gheor Agricôla (Georg Agricola) - nhà tư tưởng người Đức ở thế kỷ XVI,
tác giả của nhiều công trình về luyện kim, đã từng nhấn mạnh vai trò to lớn
của kim loại trong cuộc sống của chúng ta. Trong tác phẩm “Về ngành mỏ
và luyện kim”, ông đã viết: “Con người sẽ không thể làm gì nếu không có
kim loại..., nếu không có kim loại thì hẳn con người đã phải kéo lê kiếp sống
thảm hại và ghê tởm nhất giữa bầy dã thú. Hẳn là người ta đã phải quay về
với những hạt dẻ và những quả táo quả lê mọc dại trong rừng, phải ăn cỏ và
rễ cây, phải dùng móng tay đào bới cho mình những cái hang để lấy chỗ ban
đêm chui vào nằm, còn ban ngày thì lang thang hết chỗ này chỗ nọ trong các
chốn rừng rậm và đồng hoang chẳng khác gì những con dã thú. Bởi vì lối
sống như thế hoàn toàn không xứng đáng với trí tuệ con người - món quà
quý nhất mà thiên nhiên ban cho, nên lẽ nào lại có người ngu ngốc và gàn dở
đến nỗi không đồng ý rằng, kim loại thật cần tiết cho việc ăn mặc và nói
chung là để duy trì cuộc sống cho con người?”
Nhà bác học vĩ đại M.V.Lomonosov cũng đánh giá rất cao ý nghĩa của kim
loại đối với sự phát triển của xã hội loài người. Trong cuốn “Mấy lời bàn về
lợi ích của hóa học”, ông đã viết: “Kim loại tạo nên vẻ đẹp và sự bền vững
cho các đồ dùng quan trọng và cần thiết trong xã hội... Kim loại bảo vệ
chúng ta trước sự tấn công của kẻ thù, các con tàu nhờ có kim loại mà trở
nên cứng vững và được chằng buộc bởi sức mạnh của kim loại để lướt trên
sóng biển trước những trận cuồng phong dữ dội. Kim loại làm cho đất đai trở
nên phì nhiêu; kim loại giúp chúng ta trong việc săn bắt các loại động vật
trên cạn và dưới nước để nuôi sống chúng ta... Nói tóm lại, không một lĩnh
vực nghệ thuật nào, không một nghề thủ công đơn giản nào lại có thể tránh
được việc sử dụng kim loại”.
Thế giới kim loại thật hấp dẫn và vô cùng phong phú. Trong số các kim loại
có những thứ là người bạn đã lâu của con người: đồng, sắt, vàng, bạc, chì,
thiếc, thủy ngân. Tình bạn này đã có từ hàng ngàn năm nay. Song cũng có
những kim loại mà con người chỉ mới quen biết trong vòng mấy chục năm
gần đây.
Tình chất của các kim loại thật kỳ lạ và đa dạng. Chẳng hạn, thủy ngân
không bị đông cứng ngay cả ở ba mươi độ âm, còn vonfram thì không sợ
những cuộc vây hãm nóng bỏng nhất của ngọn lửa. Bạc và đồng dẫn điện rất
thoải mái, còn titan thì chẳng thích thú gì cái việc ấy. Liti nhẹ bằng một nửa
nước và dù muốn đến đâu cũng không thể nhấn chìm, còn osimi - nhà vô
địch của các kim loại nặng, thì chìm nghỉm như một tảng đá, bởi vì mật độ
của nó lớn hơn của nước trên hai mươi lần. Hành tinh của chúng ta rất giàu
nhôm, còn franxi thì hiếm đến nỗi hàm lượng của nó trong vỏ trái đất chỉ
được tính bằng gam.
Thật khó hình dung nổi điều gì sẽ xảy ra trong thế giới xung quanh chúng ta
nếu như các kim loại bỗng nhiên biến mất hết. Nếu không có sắt thì chúng ta
chẳng có ôtô và tàu hỏa, không có cầu và đường ray bằng thép, không có
những cỗ máy công cụ và những kết cấu bêtông cốt thép; nếu không có
nhôm thì ngày nay không thể nói đến ngành hàng không và ngành xây dựng;
đồng mà mất đi thì chủng loại sản phẩm kỹ thuật điện sẽ giảm sút ghê gớm;
nếu không có vonfram thì hàng tỷ bóng đèn điện sẽ tắt ngấm; nếu không có
crom và niken thì thép không gỉ sẽ bị bao phủ bởi một lớp gỉ dày cộm.
Tôi nghĩ rằng, sẽ chẳng cần phải vẽ tiếp bức tranh buồn thảm này nữa: chính
là vì hầu hết mọi kim loại đều có những “công lao cá nhân” của mình đối với
kỹ thuật hiện đại. May mắn thay, chúng ta không bị tất cả sự mất mát đó đe
dọa. Hơn thế nữa, còn có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, quy mô
sản xuất và tiêu dùng hầu như tất cả mọi kim loại công nghiệp sẽ ngày càng
được mở rộng, các nhà bác học sẽ tạo ra rất nhiều kim loại mới, rồi cả những
kim loại và hợp kim “cũ” cũng sẽ bộc lộ thêm những khả năng mới đầy bất
ngờ của chúng. Chẳng hạn, ai mà biết được trong những năm sắp tới, các thứ
“thủy tinh” kim loại đa dạng - các kim loại đông đặc ở trạng thái vô định
hình, sẽ cho chúng ta thấy những tính chất gì? Hợp kim thần diệu nitinon và
hàng loạt các hợp kim tương tự khác đã thể hiện năng lực có một không hai
là “nhớ” được hình dạng ban đầu của mình. Triển vọng của các vật liệu phối
trí mà thành phần quan trọng của chúng là kim loại, hợp kim và các hợp chất
hóa học của kim loại thật là to lớn. Tóm lại, không còn nghi ngờ gì nữa,
trong tương lai lâu dài, kim loại vẫn giữ được vị trí hàng đầu của mình và sẽ
là cơ sở của nền văn hóa vật chất của chúng ta.
Cuốn sách mà tôi có vinh dự được giới thiệu cùng bạn đọc ở đây kể về số
phận của những kim loại quan trọng nhất. Tôi tin chắc rằng, nó sẽ gây nên sự
hứng thú không những ở các bạn thanh thiếu niên đang muốn mở ra cho
mình một thế giới khoa học, mà còn ở tất cả những ai tuy đã rời ghế nhà
trường phổ thông hay đại học từ lâu, song vẫn không mất đi tính ham hiểu
biết vốn có của tuổi trẻ và muốn tận dụng mọi cơ hội để mở rộng tầm mắt
của mình.
Viện sĩ A. F. Belov
Nhẹ nhất trong số các kim loại
Li
Năm 1967, liti - nguyên tố đứng đầu tiên trong số các kim loại trong Hệ
thống tuần hoàn của Đ.I. Menđeleep đã kỷ niệm 150 năm ngày nó được tìm
ra. Lễ kỷ niệm này diễn ra lúc liti đang ở buổi sung sức: hoạt động của nó
trong kỹ thuật hiện đại thật là thú vị và nhiều mặt. Thế mà các nhà chuyên
môn vẫn cho rằng, liti vẫn hoàn toàn chưa bộc lộ hết mọi khả năng của mình
và họ tiên đoán cho nó một tiền đồ rộng lớn. Nhưng, mời bạn, chúng ta hãy
thực hiện một cuộc du lãm vào thế kỷ vừa qua, hãy ngó vào phòng thí
nghiệm tĩnh mịch của nhà hóa học Thụy Điển tên là Iohan Apgut Acfvetxơn
(Johann August Arvedson). Đây là nước Thụy điển năm 1817.
Đó là ngày mà nhà bác học tiến hành phân tích khoáng vật petalit tìm được ở
mỏ Uto gần Stockholm. Ông đã kiểm tra đi kiểm tra lại những kết quả phân
tích, nhưng cứ mỗi lần như vậy, ông đều chỉ nhận được tổng số các thành
phần là 96%. Vậy thì mất vào đâu 4%? Sẽ ra sao nếu như...? Phải rồi, không
còn nghi ngờ gì nữa: khoáng vật này có chứa một nguyên tố mới mà từ trước
tới nay chưa có ai biết. Acfvetxơn làm hết thí nghiệm này đến thí nghiệm
khác và cuối cùng đã đạt được mục đích: một kim loại kiềm mới đã được
phát hiện. Bởi vì, khác với những “người họ hàng” gần gũi của mình - kali
và natri mà lần đầu tiên được tìm thấy trong các sản phẩm hữu cơ, nguyên tố
mới này được phát hiện trong một khoáng vật, nên nhà bác học đã quyết
định gọi nó là liti (theo tiếng Hy Lạp, “liteos” nghĩa là đá)
Ít lâu sau, Acfvetxơn lại tìm thấy nguyên tố này trong các khoáng vật khác,
còn nhà hóa học Thụy Điển nổi tiếng Berzelius thì lại phát hiện ra nó trong
nước khoáng ở Cacxbat và ở Mariebat. Nhân đây cũng nói thêm rằng, ngày
nay, các nguồn nước suối chữa bệnh ở Visi (nước Pháp) sở dĩ nổi tiếng khắp
nơi về những tính chất chữa bệnh rất tốt chính là vì trong đó có các muối liti.
Năm 1818, nhà bác học người Anh là Humphry Davy lần đầu tiên đã tách
được những hạt liti tinh khiết bằng cách điện phân hiđroxit của nó, rồi đến
năm 1855, một cách độc lập với nhau, nhà hoa học Robert Bunsen người
Đức và nhà vật lý học Matissen người Anh đã điều chế được liti nguyên chất
bằng cách điện phân liti clorua nóng chảy. Đó là một kim loại mềm, trắng
như bạc, nhẹ hơn nước gần hai lần. Về mặt này thì liti không gặp một đối thủ
nào trong số các kim loại: nhôm nặng hơn nó năm lần, sắt - 15 lần, chì - 20
lần, còn osimi - 40 lần!
Ngay ở nhiệt độ trong phòng, liti cũng phản ứng mãnh liệt với oxi và nitơ
của không khí. Bạn hãy thử để một mẩu liti trong bình thủy tinh có nút mài
nhám. Mẩu kim loại này sẽ hút hết không khí có trong bình: trong bình xuất
hiện chân không và áp suất khí quyển “ấn” vào nút mạnh tới nỗi các bạn khó
mà kéo nó ra được. Vì vậy, bảo quản liti là một việc khá phức tạp. Nếu như
natri chẳng hạn, có thể bảo quản dễ dàng trong dầu hoả hoặc xăng, thì đối
với liti, không thể dùng cách ấy được, vì nó sẽ nổi lên và bốc cháy ngay tức
khắc. Để bảo quản các thỏi liti, người ta thường dìm chúng vào trong bể
chứa vazơlin hoặc parafin, những chất này bao quanh kim loại và không cho
nó bộc lộ tính “háu” phản ứng của mình.
Liti còn kết hợp mạnh mẽ hơn với hiđro. Chỉ một lượng nhỏ kim loại này
cũng có thể liên kết với một thể tích hiđrô rất lớn: trong 1 kilôgam liti hiđrua
có 2.800 lít khí hiđro! Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ 2, các viên
phi công Mỹ đã dùng những viên liti hiđrua làm nguồn hiđrô mang theo bên
mình. Họ sử dụng chúng khi gặp nạn ngoài biển: dưới tác dụng của nước,
các viên này phân rã ngay lập tức, bơm đầy khí hiđro vào các phương tiện
cấp cứu như thuyền cao su, áo phao, bóng-angten tín hiệu.
Các hợp chất của liti có khả năng hút ẩm cực mạnh, điều đó khiến cho chúng
được sử dụng rộng rãi để làm sạch không khí trong tàu ngầm, trong các bình
thở trên máy bay, trong các hệ thống điều hòa không khí.
Bước vào thế kỷ XX, liti mới được bắt đầu sử dụng trong công nghiệp. Còn
trong gần một trăm năm trước đó thì chủ yếu người ta dùng nó trong y học
để làm thuốc chữa bệnh thống phong.
Trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Đức rất cần thiếc để
sử dụng trong công nghiệp. Do nước này không có quặng thiếc nên các nhà
bác học phải cấp tốc tìm kim loại khác để thay thế. Nhờ có liti nên vấn đề
này đã được giải quyết một cách tốt đẹp: hợp kim của chì với liti là một vật
liệu chống ma sát tuyệt với. Từ đó trở đi, các hợp kim liti luôn gắn liền với
các ngành kỹ thuật. Đã có những hợp kim của liti với nhôm, với berili, với
đồng, kẽm, bạc và với nhiều nguyên tố khác. Những triển vọng hết sức to
lớn đã rộng mở cho các hợp kim của liti với magiê - một kim loại nhẹ khác
có tính chất kết cấu rất tốt: nếu liti chiếm ưu thế thì hợp chất đó sẽ nhẹ hơn
nước. Nhưng rủi thay, các hợp kim có thành phần như vậy lại không bền
vững, rất dễ bị oxi hóa trong không khí. Từ lâu, các nhà bác học đã ao ước
tạo nên một sự phối trí và một công nghệ bảo đảm được tính bền lâu cho các
hợp kim liti - magiê. Các nhà khoa học ở Viện luyện kim mang tên A. A.
Baicôp thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô đã giải quyết được bài toán
đó: bằng lò nồi chân không nung bằng điện trong môi trường khí trơ agon,
họ đã điều chế được hợp kim của liti với magie mà không bị mờ xám trong
không khí và nhẹ hơn nước.
Nhiều tính chất quý báu của liti như khả năng phản ứng cao, nhiệt độ nóng
chảy thấp (chỉ 180,5 độ c), mật độ các hợp chất hóa học của nó nhỏ, đã khiến
cho nguyên tố này được tham gia vào nhiều quá trình công nghệ trong luyện
kim đen và luyện kim màu. Chẳng hạn nó đóng vai trò chất khử khí và khử
oxi một cách xuất sắc - nó xua đuổi các chất khí như nitơ, oxi ra khỏi các
kim loại đang nóng chảy. Nhờ có liti mà cấu trúc của một số hợp kim trở nên
mịn hạt, do đó mà những tính chất cơ học của chúng trở nên tốt hơn. Trong
sản xuất nhôm, liti thực hiện rất tốt vai trò chất thúc đẩy quá trình. Pha thêm
các hợp chất của liti vào chất điện phân sẽ nâng cao được năng suất của bể
điện phân nhôm; khi đó, nhiệt độ cần thiết của bể sẽ giảm xuống và tốn phí
điện năng sẽ giảm rõ rệt.
Trước kia, chất điện phân của ăcquy kiềm chỉ gồm các dung dịch xút ăn da
(NAOH). Nhưng nếu pha thêm vào chất điện phân này vài gam liti hiđroxit
(LiOH) thì tuổi thọ của ăcquy sẽ tăng lên ba lần. Ngoài ra, khoảng nhiệt độ
của ăcquy cũng được mở rộng thêm: nó không phóng điện ngay cả khi nhiệt
độ lên tới 40 độ C và ở hai chục độ âm vẫn không bị đông đặc. Chất điện
phân không có liti thì không chịu đựng được những thử thách như vậy. Nhật
Bản đã chế tạo được loại ăcquy tí hon độc đáo dùng cho các đồng hồ điện tử
đeo tay: bề dày của ăcquy chỉ bằng 34 micron, nghĩa là mảnh hơn sợi tóc,
trong đó, cực dương là một màng liti cực mỏng, còn cực âm thì làm bằng
titan đisunfit. Thiết bị điện tinh vi này chịu đựng được 2000 chu kỳ nạp và
phóng điện, mỗi lần nạp điện cho phép đồng hồ làm việc từ 200 - 300 giờ.
Các công trình sư của các hãng chế tạo ô tô cũng đặt nhiều hy vọng không
nhỏ vào liti. Chẳng hạn, ở Mỹ người ta đã chế tạo pin bằng liti dùng cho ô tô
chạy bằng điện năng. Loại xe này có thể đạt tới tốc độ 100km/h và có thể
chạy hàng trăm km mà không cần phải thay pin.
Một số hợp chất hữu cơ của liti (stearat, panminat v. v...) vẫn giữ nguyên
được những tính chất vật lý của mình trong khoảng nhiệt độ rộng. Điều đó
cho phép sử dụng chúng làm nền cho các vật liệu bôi trơn trong kỹ thuật
quân sự. Chất bôi trơn có chứa liti giúp cho các xe chạy trên mọi địa hình
đang làm việc ở Nam cực thực hiện được các hành trình vào sâu trong lục
địa này, nơi mà nhiệt độ băng giá có khi thấp đến -80 độ C. Chất bôi trơn
chứa liti là trợ thủ đắc lực cho những người đua ô tô. Những người chủ của
loại xe ô tô “jiguli” tin chắc ở điều đó nên không phải ngẫu nhiên mà họ gọi
nó là chất bôi trơn “vĩnh cửu”: Khi mới bắt đầu sử dụng, chỉ cần dùng nó để
bôi trơn một lần cho các chi tiết hay cọ xát của ô tô, thế là nhiều năm sau
không cần phải lặp lại công việc ấy nữa.
Trong chúng ta chắc ai cũng đã nghe nói đến những phép lạ mà những người
iôga Ấn Độ thường làm. Trước mặt đám công chúng đầy kinh ngạc, họ nhai
chiếc cốc thủy tinh thành những mảnh nhỏ chẳng khác gì ăn chiếc bánh bíchquy bình thường, rồi lại còn nuốt chúng với vẻ thích thú, như thể trong đời
họ chưa hề được ăn một thức gì ngon hơn. Còn bạn đã từng nếm thử thủy
tinh chưa? “Câu hỏi thật quá vô lý! Tất nhiên là chưa!”. Có lẽ bất cứ người
nào khi đọc này đều nghĩ như vậy. Như thế là nhầm rồi đấy. Thật ra thì thủy
tinh thông thường vẫn hòa tan trong nước. Tất nhiên là không phải ở mức độ
chẳng hạn như đường, nhưng dù sao nó vẫn bị hòa tan. Những chiếc cân
phân tích chính xác nhất cho biết rằng, cùng với cốc nước chè nóng, chúng ta
còn uống khoảng một phần vạn gram thủy tinh. Nhưng nếu khi nấu thủy
tinh, ta pha thêm một ít muối lantan, muối ziriconi và muối liti thì độ hoà tan
của nó trong nước sẽ giảm hàng trăm lần. Thuỷ tinh sẽ rất bền vững ngay cả
đối với axit sunfuric.
Hoạt động của liti trong ngành sản xuất thủy tinh không phải chỉ bó hẹp
trong việc hạ thấp độ hòa tan của thủy tinh. Thủy tinh chứa liti được đặc
trưng bởi những tính chất quang học rất quý giá, tính chịu nhiệt tốt, suất điện
trở cao, mất mát điện môi ít. Đặc biệt, liti còn tham gia vào thành phần của
thủy tinh dùng làm đèn hình trong các máy thu hình. Nếu ta xử lý kính cửa
sổ thông thường trong các muối liti nóng chảy thì trên bề mặt của nó sẽ hình
thành một lớp bảo vệ: kính sẽ bền gấp đôi và chịu đựng tốt hơn đối với nhiệt
độ cao. Pha thêm một lượng nhỏ nguyên tố này cũng giảm được rất nhiều
nhiệt độ nấu của thủy tinh.
Từ xa xưa, giọt sương được dùng làm biểu tượng cho tính trong suốt. Nhưng
ngay cả những thứ thủy tinh trong suốt như giọt sương cũng không đáp ứng
được nhu cầu của kỹ thuật hiện đại. Kỹ thuật hiện đại cần có những vật liệu
quang học không những để cho các tia sáng nhìn thấy được bằng mắt thường
xuyên qua, mà còn phải để cho các tia không nhìn thấy, chẳng hạn như tia tử
ngoại cũng xuyên qua được. Với kính thiên văn thông thường, các nhà vật lý
thiên văn không thể thu nhận được bức xạ của những thiên hà ở rất xa. Trong
số các vật liệu mà bộ môn quang học biết đến thì liti clorua có độ trong suốt
cao nhất đối với tia tử ngoại. Các thấu kính làm bằng các đơn tinh thể của
chất này cho phép các nhà nghiên cứu xâm nhập sâu thêm rất nhiều vào
những bí mật của Vũ trụ.
Liti đóng vai trò không nhỏ trong việc sản xuất các loại men sứ, men sắt, các
chất màu, đồ sứ và đồ sành có chất lượng cao. Trong công nghiệp dệt, một
số hợp chất của nguyên tố này được dùng để tẩy trắng và cầm màu vải, còn
một số chất khác thì dùng để nhuộm vải.
Các muối của liti rất quen thuộc với các nhà chế tạo và sử dụng thuốc nổ:
chúng làm cho vệt đạn vạch đường và pháo sáng có màu xanh lục - lam rực
rỡ.
Trò ảo thuật sau đây dựa trên khả năng hỏa thuật của liti. Bạn hãy dùng que
diêm để đốt một cục đường nhỏ, và sẽ chẳng có điều gì xảy ra cả: đường bắt
đầu nóng chảy nhưng không cháy. Còn nếu trước đó mà bạn xát miếng
đường vào tàn thuốc lá thì nó sẽ bốc cháy dễ dàng với ngọn lửa màu xanh da
trời rất đẹp. Sở dĩ như vậy là vì trong thuốc lá cũng như trong nhiều thực vật
khác, hàm lượng liti tương đối lớn. Khi đốt cháy thuốc là, một phần các hợp
chất của liti vẫn còn lại trong tro tàn. Chính vì thế mà ta làm được trò ảo
thuật đơn giản này.
Nhưng tất cả những gì vừa kể ở trên mới chỉ là những công việc thứ yếu,
những “nghề phụ” của liti. Nó còn làm được những công việc quan trong
hơn. Đây muốn nói đến ngành năng lượng học hạt nhân, ở đó, có thể chẳng
bao lâu nữa liti sẽ bắt đầu đóng vai trò của một trong những “cây đàn vĩ cầm
số một”. Các nhà bác học đã xác định được rằng, hạt nhân của đồng vị liti-6
có thể dễ bị nơtrôn phá vỡ. Khi hấp thụ nơtrôn, hạt nhân của liti trở nên kém
bền vững và bị phân rã, kết quả là hai nguyên tử mới sẽ hình thành đó là khí
trơ nhẹ heli và hiđrô siêu nặng - triti - cực kỳ hiếm. Ở nhiệt độ rất cao, các
nguyên tử triti và đơteri (một đồng vị khác của hidro) sẽ kết hợp với nhau.
Quá trình đó kèm theo sự giải phóng một lượng năng lượng khổng lồ mà
thường được gọi là năng lượng nhiệt hạch.
Các phản ứng nhiệt hạch cực kỳ mãnh liệt sẽ xảy ra khi dùng nơtron bắn phá
liti đơteri - một hợp chất của đồng vị liti-6 với đơteri. Chất này được dùng
làm nguyên liệu hạt nhân trong các lò phản ứng liti, là những lò mà so với
những lò phản ứng urani thì có nhiều ưu điểm hơn: liti dễ kiếm và rẻ tiền
hơn nhiều so với urani, còn khi phản ứng thì không tạo ra các sản phẩm phân
hạch có tính phóng xạ và quá trình phản ứng dễ điều chỉnh hơn.
Liti-6 có khả năng bắt giữ các nơtron chậm khá tốt, đó là cơ sở để sử dụng
nó làm chất điều tiết cường độ các phản ứng diễn ra ngay cả trong các lò
phản ứng urani. Nhờ tính chất này mà đồng vị liti-6 còn được sử dụng trong
các lá chắn chống bức xạ và trong các bộ pin nguyên tử có thời hạn sử dụng
lâu dài. Trong tương lai không xa, liti - 6 rất có thể sẽ trở thành chất hấp thụ
nơtron chậm trong các khí cụ bay dùng năng lượng nguyên tử.
Cũng như một số kim loại kiềm khác, liti được sử dụng làm chất tải nhiệt
trong các thiết bị hạt nhân. Ở đây có thể dùng một đồng vị dễ kiếm hơn của
nó, đó là liti-7 (trong liti thiên nhiên, đồng vị này chiếm khoảng 93%). Khác
với “người em” nhẹ hơn của mình, đồng vị này không thể dùng làm nguyên
liệu để sản xuất triti, vì vậy mà nó không được quan tâm tới trong kỹ thuật
nhiệt hạch. Nhưng với vai trò là chất tải nhiệt thì nó lại tỏ ra rất đắc lực.
Nhiệt dung và độ dẫn nhiệt cao, nhiệt độ của trạng thái nóng chảy nằm trong
một khoảng rộng, độ nhớt không đáng kể và mật độ nhỏ - đó là những điều
giúp nó hoàn thành tốt nhiệm vụ này.
Trong thời gian gần đây, kĩ thuật tên lửa bắt đầu dành cho liti những địa vị
quan trọng. Muốn vượt qua lực hút của trái đất để vượt lên khoảng không
gian ngoài vũ trụ cần phải chi phí rất nhiều năng lượng. Chiếc tên lửa từng
đưa con tàu trở nhà du hành vũ trụ đầu tiên trên thế giới Iuri Gagarin lên quỹ
đạo có sáu động cơ với công suất tổng cộng là 20 triệu mã lực! Đó là công
suất của hai chục nhà máy thủy điện cỡ như Nhà máy thủy điện Đniep.
Tất nhiên, việc lựa chọn nhiên liệu cho tên lửa là một vấn đề cực kỳ quan
trọng. Cho đến nay, dầu hỏa (đúng là dầu hỏa già cả và tốt bụng) được oxi
hóa bởi oxi lỏng vẫn được coi là nhiên liệu hữu hiệu nhất. Khi đốt nhiên liệu
này, năng lượng phát ra lớn gấp hơn 1,5 lần so với khi cho nổ cũng một
lượng như vậy loại thuốc nổ Nitroglixerin là loại thuốc nổ mạnh nhất.
Việc sử dụng nhiên liệu kim loại có thể có những triển vọng tuyệt vời. Lần
đầu tiên cách đây hơn nửa thế kỷ, các nhà bác học Xô -viết nổi tiếng là F. A.
Txanđer và Iu. V. Conđrachiuk đã khởi xướng lý thuyết và phương pháp sử
dụng kim loại làm nhiên liệu cho động cơ tên lửa. Liti là một trong số những
kim loại thích hợp nhất cho mục đích này (chỉ có berili mới có thể “huênh
hoang” về suất tỏa nhiệt lớn). Ở Mỹ người ta đã công bố những phát minh về
nhiên liệu rắn dùng cho tên lửa trong đó chứa từ 51 đến 68% liti kim loại.
Một điều đáng chú ý là trong quá trình làm việc của các động cơ tên lửa, liti
lại phải chống chọi lại với... liti. Là một thành phần của nhiên liệu, nó cho
phép sản sinh ra nhiệt độ rất cao, còn các vật liệu gốm chứa liti (chẳng hạn
như stupalit) có
Tác giả: X.I. Venetxki
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục Lục:
Cuốn sách 'Kể chuyện về kim loại' 2
Lời tựa của nhà xuất bản Mir 2
Li - Nhẹ nhất trong số các kim loại 4
Be - Kim loại của kỷ nguyên vũ trụ . 9
Mg - Kim loại “dễ phát khùng” . 15
AL- “Bạc” lấy từ đất sét 21
Ti - Con của đất 29
V- “VITAMIN V” . 36
Cr - Chữ “X” bí ẩn . 41
Mn - Bạn đường muôn thủa của sắt 47
Ni - “Con quỷ đồng” . 53
Cu - Đã từng thay thế đá . 61
Zr – “Trang phục” của những thanh urani 79
Nb - Thứ bốn mươi mốt 84
Mo - Bạn đồng minh của sắt 89
Ag - Kim loại của mặt trăng . 96
Sn - “Cứng” mà lại... mềm .. 104
Ta- Sinh trưởng trong đau khổ . 110
W - Kẻ cho ta ánh sáng . 114
Pt - Sau ba lần khóa . 120
Au – “Vua của các kim loại” – kim loại của các vua . 126
Hg – “Nước bạc” . 136
Pb - Kẻ diệt trừ đế chế La Mã . 142
U - Nhiên liệu của thế kỷ XX .. 148
Cuốn sách 'Kể chuyện về kim loại'
Tác giả của cuốn sách này là X.I. Venetxki. Qua mỗi chương, với vô số các
mẩu chuyện lý thú, và gần gũi với thực tế, tác giả kể cho chúng ta nghe bằng
cách nào người ta tìm ra các kim loại, đã kỳ công tinh chế chúng ra sao, con
đường mà mỗi kim loại xâm nhập vào đời sống, sự đổi ngôi của chúng, cũng
như những đặc tính hữu ích và mới mẻ của chúng dưới vỏ ngoài của các hiện
tượng kỳ lạ, huyền bí.
Dẫn dắt qua các câu chuyện, X.I. Venetxki đã biến một trong lĩnh vực khô
khan "khó nuốt" nhất thành một đề tài cuốn hút, dễ nhớ mà không hề dùng
tới những mô hình hay công thức phức tạp có nguy cơ khiến bạn đọc rối trí.
Và khi đóng trang sách lại, bạn đọc còn nhớ câu chuyện về bà chủ trọ keo
kiệt với những miếng thịt ôi đã bị liti vạch mặt ra sao, hay những vị khách ức
đến phát khóc trong bữa tiệc của hoàng đế Pháp Napoleon III, vì không được
dùng loại thìa nhôm sang trọng, thì ấy là X.I. Venetxki đã thành công.
Kể chuyện về kim loại dẫu được viết ra cách đây hơn một thập kỷ, nhưng nội
dung của nó vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn và mới mẻ cho đến tận ngày
nay.
Bản tiếng Việt mà chúng tôi giới thiệu sau đây được dịch bởi Lê Mạnh
Chiến, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, và Nhà xuất bản Mir,
1989. Trong sách, các tên riêng và địa danh được phiên âm ra tiếng Việt
(nhưng lần dùng đầu tiên được viết bằng tiếng Anh), vì thế, chúng tôi giữ
nguyên cách phiên âm này.
Lời tựa của nhà xuất bản Mir
Kể từ ngày thời kỳ đồ đá chuyển giao lại quyền hành của mình sang cho thời
đại đồ đồng, các kim loại đã phục vụ con người một cách trung thành, giúp
con người xây dựng và sáng tạo, khắc phục thiên tai, khám phá các bí mật
của thiên nhiên, chế tác ra các cơ cấu và máy móc tuyệt diệu.
Gheor Agricôla (Georg Agricola) - nhà tư tưởng người Đức ở thế kỷ XVI,
tác giả của nhiều công trình về luyện kim, đã từng nhấn mạnh vai trò to lớn
của kim loại trong cuộc sống của chúng ta. Trong tác phẩm “Về ngành mỏ
và luyện kim”, ông đã viết: “Con người sẽ không thể làm gì nếu không có
kim loại..., nếu không có kim loại thì hẳn con người đã phải kéo lê kiếp sống
thảm hại và ghê tởm nhất giữa bầy dã thú. Hẳn là người ta đã phải quay về
với những hạt dẻ và những quả táo quả lê mọc dại trong rừng, phải ăn cỏ và
rễ cây, phải dùng móng tay đào bới cho mình những cái hang để lấy chỗ ban
đêm chui vào nằm, còn ban ngày thì lang thang hết chỗ này chỗ nọ trong các
chốn rừng rậm và đồng hoang chẳng khác gì những con dã thú. Bởi vì lối
sống như thế hoàn toàn không xứng đáng với trí tuệ con người - món quà
quý nhất mà thiên nhiên ban cho, nên lẽ nào lại có người ngu ngốc và gàn dở
đến nỗi không đồng ý rằng, kim loại thật cần tiết cho việc ăn mặc và nói
chung là để duy trì cuộc sống cho con người?”
Nhà bác học vĩ đại M.V.Lomonosov cũng đánh giá rất cao ý nghĩa của kim
loại đối với sự phát triển của xã hội loài người. Trong cuốn “Mấy lời bàn về
lợi ích của hóa học”, ông đã viết: “Kim loại tạo nên vẻ đẹp và sự bền vững
cho các đồ dùng quan trọng và cần thiết trong xã hội... Kim loại bảo vệ
chúng ta trước sự tấn công của kẻ thù, các con tàu nhờ có kim loại mà trở
nên cứng vững và được chằng buộc bởi sức mạnh của kim loại để lướt trên
sóng biển trước những trận cuồng phong dữ dội. Kim loại làm cho đất đai trở
nên phì nhiêu; kim loại giúp chúng ta trong việc săn bắt các loại động vật
trên cạn và dưới nước để nuôi sống chúng ta... Nói tóm lại, không một lĩnh
vực nghệ thuật nào, không một nghề thủ công đơn giản nào lại có thể tránh
được việc sử dụng kim loại”.
Thế giới kim loại thật hấp dẫn và vô cùng phong phú. Trong số các kim loại
có những thứ là người bạn đã lâu của con người: đồng, sắt, vàng, bạc, chì,
thiếc, thủy ngân. Tình bạn này đã có từ hàng ngàn năm nay. Song cũng có
những kim loại mà con người chỉ mới quen biết trong vòng mấy chục năm
gần đây.
Tình chất của các kim loại thật kỳ lạ và đa dạng. Chẳng hạn, thủy ngân
không bị đông cứng ngay cả ở ba mươi độ âm, còn vonfram thì không sợ
những cuộc vây hãm nóng bỏng nhất của ngọn lửa. Bạc và đồng dẫn điện rất
thoải mái, còn titan thì chẳng thích thú gì cái việc ấy. Liti nhẹ bằng một nửa
nước và dù muốn đến đâu cũng không thể nhấn chìm, còn osimi - nhà vô
địch của các kim loại nặng, thì chìm nghỉm như một tảng đá, bởi vì mật độ
của nó lớn hơn của nước trên hai mươi lần. Hành tinh của chúng ta rất giàu
nhôm, còn franxi thì hiếm đến nỗi hàm lượng của nó trong vỏ trái đất chỉ
được tính bằng gam.
Thật khó hình dung nổi điều gì sẽ xảy ra trong thế giới xung quanh chúng ta
nếu như các kim loại bỗng nhiên biến mất hết. Nếu không có sắt thì chúng ta
chẳng có ôtô và tàu hỏa, không có cầu và đường ray bằng thép, không có
những cỗ máy công cụ và những kết cấu bêtông cốt thép; nếu không có
nhôm thì ngày nay không thể nói đến ngành hàng không và ngành xây dựng;
đồng mà mất đi thì chủng loại sản phẩm kỹ thuật điện sẽ giảm sút ghê gớm;
nếu không có vonfram thì hàng tỷ bóng đèn điện sẽ tắt ngấm; nếu không có
crom và niken thì thép không gỉ sẽ bị bao phủ bởi một lớp gỉ dày cộm.
Tôi nghĩ rằng, sẽ chẳng cần phải vẽ tiếp bức tranh buồn thảm này nữa: chính
là vì hầu hết mọi kim loại đều có những “công lao cá nhân” của mình đối với
kỹ thuật hiện đại. May mắn thay, chúng ta không bị tất cả sự mất mát đó đe
dọa. Hơn thế nữa, còn có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, quy mô
sản xuất và tiêu dùng hầu như tất cả mọi kim loại công nghiệp sẽ ngày càng
được mở rộng, các nhà bác học sẽ tạo ra rất nhiều kim loại mới, rồi cả những
kim loại và hợp kim “cũ” cũng sẽ bộc lộ thêm những khả năng mới đầy bất
ngờ của chúng. Chẳng hạn, ai mà biết được trong những năm sắp tới, các thứ
“thủy tinh” kim loại đa dạng - các kim loại đông đặc ở trạng thái vô định
hình, sẽ cho chúng ta thấy những tính chất gì? Hợp kim thần diệu nitinon và
hàng loạt các hợp kim tương tự khác đã thể hiện năng lực có một không hai
là “nhớ” được hình dạng ban đầu của mình. Triển vọng của các vật liệu phối
trí mà thành phần quan trọng của chúng là kim loại, hợp kim và các hợp chất
hóa học của kim loại thật là to lớn. Tóm lại, không còn nghi ngờ gì nữa,
trong tương lai lâu dài, kim loại vẫn giữ được vị trí hàng đầu của mình và sẽ
là cơ sở của nền văn hóa vật chất của chúng ta.
Cuốn sách mà tôi có vinh dự được giới thiệu cùng bạn đọc ở đây kể về số
phận của những kim loại quan trọng nhất. Tôi tin chắc rằng, nó sẽ gây nên sự
hứng thú không những ở các bạn thanh thiếu niên đang muốn mở ra cho
mình một thế giới khoa học, mà còn ở tất cả những ai tuy đã rời ghế nhà
trường phổ thông hay đại học từ lâu, song vẫn không mất đi tính ham hiểu
biết vốn có của tuổi trẻ và muốn tận dụng mọi cơ hội để mở rộng tầm mắt
của mình.
Viện sĩ A. F. Belov
Nhẹ nhất trong số các kim loại
Li
Năm 1967, liti - nguyên tố đứng đầu tiên trong số các kim loại trong Hệ
thống tuần hoàn của Đ.I. Menđeleep đã kỷ niệm 150 năm ngày nó được tìm
ra. Lễ kỷ niệm này diễn ra lúc liti đang ở buổi sung sức: hoạt động của nó
trong kỹ thuật hiện đại thật là thú vị và nhiều mặt. Thế mà các nhà chuyên
môn vẫn cho rằng, liti vẫn hoàn toàn chưa bộc lộ hết mọi khả năng của mình
và họ tiên đoán cho nó một tiền đồ rộng lớn. Nhưng, mời bạn, chúng ta hãy
thực hiện một cuộc du lãm vào thế kỷ vừa qua, hãy ngó vào phòng thí
nghiệm tĩnh mịch của nhà hóa học Thụy Điển tên là Iohan Apgut Acfvetxơn
(Johann August Arvedson). Đây là nước Thụy điển năm 1817.
Đó là ngày mà nhà bác học tiến hành phân tích khoáng vật petalit tìm được ở
mỏ Uto gần Stockholm. Ông đã kiểm tra đi kiểm tra lại những kết quả phân
tích, nhưng cứ mỗi lần như vậy, ông đều chỉ nhận được tổng số các thành
phần là 96%. Vậy thì mất vào đâu 4%? Sẽ ra sao nếu như...? Phải rồi, không
còn nghi ngờ gì nữa: khoáng vật này có chứa một nguyên tố mới mà từ trước
tới nay chưa có ai biết. Acfvetxơn làm hết thí nghiệm này đến thí nghiệm
khác và cuối cùng đã đạt được mục đích: một kim loại kiềm mới đã được
phát hiện. Bởi vì, khác với những “người họ hàng” gần gũi của mình - kali
và natri mà lần đầu tiên được tìm thấy trong các sản phẩm hữu cơ, nguyên tố
mới này được phát hiện trong một khoáng vật, nên nhà bác học đã quyết
định gọi nó là liti (theo tiếng Hy Lạp, “liteos” nghĩa là đá)
Ít lâu sau, Acfvetxơn lại tìm thấy nguyên tố này trong các khoáng vật khác,
còn nhà hóa học Thụy Điển nổi tiếng Berzelius thì lại phát hiện ra nó trong
nước khoáng ở Cacxbat và ở Mariebat. Nhân đây cũng nói thêm rằng, ngày
nay, các nguồn nước suối chữa bệnh ở Visi (nước Pháp) sở dĩ nổi tiếng khắp
nơi về những tính chất chữa bệnh rất tốt chính là vì trong đó có các muối liti.
Năm 1818, nhà bác học người Anh là Humphry Davy lần đầu tiên đã tách
được những hạt liti tinh khiết bằng cách điện phân hiđroxit của nó, rồi đến
năm 1855, một cách độc lập với nhau, nhà hoa học Robert Bunsen người
Đức và nhà vật lý học Matissen người Anh đã điều chế được liti nguyên chất
bằng cách điện phân liti clorua nóng chảy. Đó là một kim loại mềm, trắng
như bạc, nhẹ hơn nước gần hai lần. Về mặt này thì liti không gặp một đối thủ
nào trong số các kim loại: nhôm nặng hơn nó năm lần, sắt - 15 lần, chì - 20
lần, còn osimi - 40 lần!
Ngay ở nhiệt độ trong phòng, liti cũng phản ứng mãnh liệt với oxi và nitơ
của không khí. Bạn hãy thử để một mẩu liti trong bình thủy tinh có nút mài
nhám. Mẩu kim loại này sẽ hút hết không khí có trong bình: trong bình xuất
hiện chân không và áp suất khí quyển “ấn” vào nút mạnh tới nỗi các bạn khó
mà kéo nó ra được. Vì vậy, bảo quản liti là một việc khá phức tạp. Nếu như
natri chẳng hạn, có thể bảo quản dễ dàng trong dầu hoả hoặc xăng, thì đối
với liti, không thể dùng cách ấy được, vì nó sẽ nổi lên và bốc cháy ngay tức
khắc. Để bảo quản các thỏi liti, người ta thường dìm chúng vào trong bể
chứa vazơlin hoặc parafin, những chất này bao quanh kim loại và không cho
nó bộc lộ tính “háu” phản ứng của mình.
Liti còn kết hợp mạnh mẽ hơn với hiđro. Chỉ một lượng nhỏ kim loại này
cũng có thể liên kết với một thể tích hiđrô rất lớn: trong 1 kilôgam liti hiđrua
có 2.800 lít khí hiđro! Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ 2, các viên
phi công Mỹ đã dùng những viên liti hiđrua làm nguồn hiđrô mang theo bên
mình. Họ sử dụng chúng khi gặp nạn ngoài biển: dưới tác dụng của nước,
các viên này phân rã ngay lập tức, bơm đầy khí hiđro vào các phương tiện
cấp cứu như thuyền cao su, áo phao, bóng-angten tín hiệu.
Các hợp chất của liti có khả năng hút ẩm cực mạnh, điều đó khiến cho chúng
được sử dụng rộng rãi để làm sạch không khí trong tàu ngầm, trong các bình
thở trên máy bay, trong các hệ thống điều hòa không khí.
Bước vào thế kỷ XX, liti mới được bắt đầu sử dụng trong công nghiệp. Còn
trong gần một trăm năm trước đó thì chủ yếu người ta dùng nó trong y học
để làm thuốc chữa bệnh thống phong.
Trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Đức rất cần thiếc để
sử dụng trong công nghiệp. Do nước này không có quặng thiếc nên các nhà
bác học phải cấp tốc tìm kim loại khác để thay thế. Nhờ có liti nên vấn đề
này đã được giải quyết một cách tốt đẹp: hợp kim của chì với liti là một vật
liệu chống ma sát tuyệt với. Từ đó trở đi, các hợp kim liti luôn gắn liền với
các ngành kỹ thuật. Đã có những hợp kim của liti với nhôm, với berili, với
đồng, kẽm, bạc và với nhiều nguyên tố khác. Những triển vọng hết sức to
lớn đã rộng mở cho các hợp kim của liti với magiê - một kim loại nhẹ khác
có tính chất kết cấu rất tốt: nếu liti chiếm ưu thế thì hợp chất đó sẽ nhẹ hơn
nước. Nhưng rủi thay, các hợp kim có thành phần như vậy lại không bền
vững, rất dễ bị oxi hóa trong không khí. Từ lâu, các nhà bác học đã ao ước
tạo nên một sự phối trí và một công nghệ bảo đảm được tính bền lâu cho các
hợp kim liti - magiê. Các nhà khoa học ở Viện luyện kim mang tên A. A.
Baicôp thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô đã giải quyết được bài toán
đó: bằng lò nồi chân không nung bằng điện trong môi trường khí trơ agon,
họ đã điều chế được hợp kim của liti với magie mà không bị mờ xám trong
không khí và nhẹ hơn nước.
Nhiều tính chất quý báu của liti như khả năng phản ứng cao, nhiệt độ nóng
chảy thấp (chỉ 180,5 độ c), mật độ các hợp chất hóa học của nó nhỏ, đã khiến
cho nguyên tố này được tham gia vào nhiều quá trình công nghệ trong luyện
kim đen và luyện kim màu. Chẳng hạn nó đóng vai trò chất khử khí và khử
oxi một cách xuất sắc - nó xua đuổi các chất khí như nitơ, oxi ra khỏi các
kim loại đang nóng chảy. Nhờ có liti mà cấu trúc của một số hợp kim trở nên
mịn hạt, do đó mà những tính chất cơ học của chúng trở nên tốt hơn. Trong
sản xuất nhôm, liti thực hiện rất tốt vai trò chất thúc đẩy quá trình. Pha thêm
các hợp chất của liti vào chất điện phân sẽ nâng cao được năng suất của bể
điện phân nhôm; khi đó, nhiệt độ cần thiết của bể sẽ giảm xuống và tốn phí
điện năng sẽ giảm rõ rệt.
Trước kia, chất điện phân của ăcquy kiềm chỉ gồm các dung dịch xút ăn da
(NAOH). Nhưng nếu pha thêm vào chất điện phân này vài gam liti hiđroxit
(LiOH) thì tuổi thọ của ăcquy sẽ tăng lên ba lần. Ngoài ra, khoảng nhiệt độ
của ăcquy cũng được mở rộng thêm: nó không phóng điện ngay cả khi nhiệt
độ lên tới 40 độ C và ở hai chục độ âm vẫn không bị đông đặc. Chất điện
phân không có liti thì không chịu đựng được những thử thách như vậy. Nhật
Bản đã chế tạo được loại ăcquy tí hon độc đáo dùng cho các đồng hồ điện tử
đeo tay: bề dày của ăcquy chỉ bằng 34 micron, nghĩa là mảnh hơn sợi tóc,
trong đó, cực dương là một màng liti cực mỏng, còn cực âm thì làm bằng
titan đisunfit. Thiết bị điện tinh vi này chịu đựng được 2000 chu kỳ nạp và
phóng điện, mỗi lần nạp điện cho phép đồng hồ làm việc từ 200 - 300 giờ.
Các công trình sư của các hãng chế tạo ô tô cũng đặt nhiều hy vọng không
nhỏ vào liti. Chẳng hạn, ở Mỹ người ta đã chế tạo pin bằng liti dùng cho ô tô
chạy bằng điện năng. Loại xe này có thể đạt tới tốc độ 100km/h và có thể
chạy hàng trăm km mà không cần phải thay pin.
Một số hợp chất hữu cơ của liti (stearat, panminat v. v...) vẫn giữ nguyên
được những tính chất vật lý của mình trong khoảng nhiệt độ rộng. Điều đó
cho phép sử dụng chúng làm nền cho các vật liệu bôi trơn trong kỹ thuật
quân sự. Chất bôi trơn có chứa liti giúp cho các xe chạy trên mọi địa hình
đang làm việc ở Nam cực thực hiện được các hành trình vào sâu trong lục
địa này, nơi mà nhiệt độ băng giá có khi thấp đến -80 độ C. Chất bôi trơn
chứa liti là trợ thủ đắc lực cho những người đua ô tô. Những người chủ của
loại xe ô tô “jiguli” tin chắc ở điều đó nên không phải ngẫu nhiên mà họ gọi
nó là chất bôi trơn “vĩnh cửu”: Khi mới bắt đầu sử dụng, chỉ cần dùng nó để
bôi trơn một lần cho các chi tiết hay cọ xát của ô tô, thế là nhiều năm sau
không cần phải lặp lại công việc ấy nữa.
Trong chúng ta chắc ai cũng đã nghe nói đến những phép lạ mà những người
iôga Ấn Độ thường làm. Trước mặt đám công chúng đầy kinh ngạc, họ nhai
chiếc cốc thủy tinh thành những mảnh nhỏ chẳng khác gì ăn chiếc bánh bíchquy bình thường, rồi lại còn nuốt chúng với vẻ thích thú, như thể trong đời
họ chưa hề được ăn một thức gì ngon hơn. Còn bạn đã từng nếm thử thủy
tinh chưa? “Câu hỏi thật quá vô lý! Tất nhiên là chưa!”. Có lẽ bất cứ người
nào khi đọc này đều nghĩ như vậy. Như thế là nhầm rồi đấy. Thật ra thì thủy
tinh thông thường vẫn hòa tan trong nước. Tất nhiên là không phải ở mức độ
chẳng hạn như đường, nhưng dù sao nó vẫn bị hòa tan. Những chiếc cân
phân tích chính xác nhất cho biết rằng, cùng với cốc nước chè nóng, chúng ta
còn uống khoảng một phần vạn gram thủy tinh. Nhưng nếu khi nấu thủy
tinh, ta pha thêm một ít muối lantan, muối ziriconi và muối liti thì độ hoà tan
của nó trong nước sẽ giảm hàng trăm lần. Thuỷ tinh sẽ rất bền vững ngay cả
đối với axit sunfuric.
Hoạt động của liti trong ngành sản xuất thủy tinh không phải chỉ bó hẹp
trong việc hạ thấp độ hòa tan của thủy tinh. Thủy tinh chứa liti được đặc
trưng bởi những tính chất quang học rất quý giá, tính chịu nhiệt tốt, suất điện
trở cao, mất mát điện môi ít. Đặc biệt, liti còn tham gia vào thành phần của
thủy tinh dùng làm đèn hình trong các máy thu hình. Nếu ta xử lý kính cửa
sổ thông thường trong các muối liti nóng chảy thì trên bề mặt của nó sẽ hình
thành một lớp bảo vệ: kính sẽ bền gấp đôi và chịu đựng tốt hơn đối với nhiệt
độ cao. Pha thêm một lượng nhỏ nguyên tố này cũng giảm được rất nhiều
nhiệt độ nấu của thủy tinh.
Từ xa xưa, giọt sương được dùng làm biểu tượng cho tính trong suốt. Nhưng
ngay cả những thứ thủy tinh trong suốt như giọt sương cũng không đáp ứng
được nhu cầu của kỹ thuật hiện đại. Kỹ thuật hiện đại cần có những vật liệu
quang học không những để cho các tia sáng nhìn thấy được bằng mắt thường
xuyên qua, mà còn phải để cho các tia không nhìn thấy, chẳng hạn như tia tử
ngoại cũng xuyên qua được. Với kính thiên văn thông thường, các nhà vật lý
thiên văn không thể thu nhận được bức xạ của những thiên hà ở rất xa. Trong
số các vật liệu mà bộ môn quang học biết đến thì liti clorua có độ trong suốt
cao nhất đối với tia tử ngoại. Các thấu kính làm bằng các đơn tinh thể của
chất này cho phép các nhà nghiên cứu xâm nhập sâu thêm rất nhiều vào
những bí mật của Vũ trụ.
Liti đóng vai trò không nhỏ trong việc sản xuất các loại men sứ, men sắt, các
chất màu, đồ sứ và đồ sành có chất lượng cao. Trong công nghiệp dệt, một
số hợp chất của nguyên tố này được dùng để tẩy trắng và cầm màu vải, còn
một số chất khác thì dùng để nhuộm vải.
Các muối của liti rất quen thuộc với các nhà chế tạo và sử dụng thuốc nổ:
chúng làm cho vệt đạn vạch đường và pháo sáng có màu xanh lục - lam rực
rỡ.
Trò ảo thuật sau đây dựa trên khả năng hỏa thuật của liti. Bạn hãy dùng que
diêm để đốt một cục đường nhỏ, và sẽ chẳng có điều gì xảy ra cả: đường bắt
đầu nóng chảy nhưng không cháy. Còn nếu trước đó mà bạn xát miếng
đường vào tàn thuốc lá thì nó sẽ bốc cháy dễ dàng với ngọn lửa màu xanh da
trời rất đẹp. Sở dĩ như vậy là vì trong thuốc lá cũng như trong nhiều thực vật
khác, hàm lượng liti tương đối lớn. Khi đốt cháy thuốc là, một phần các hợp
chất của liti vẫn còn lại trong tro tàn. Chính vì thế mà ta làm được trò ảo
thuật đơn giản này.
Nhưng tất cả những gì vừa kể ở trên mới chỉ là những công việc thứ yếu,
những “nghề phụ” của liti. Nó còn làm được những công việc quan trong
hơn. Đây muốn nói đến ngành năng lượng học hạt nhân, ở đó, có thể chẳng
bao lâu nữa liti sẽ bắt đầu đóng vai trò của một trong những “cây đàn vĩ cầm
số một”. Các nhà bác học đã xác định được rằng, hạt nhân của đồng vị liti-6
có thể dễ bị nơtrôn phá vỡ. Khi hấp thụ nơtrôn, hạt nhân của liti trở nên kém
bền vững và bị phân rã, kết quả là hai nguyên tử mới sẽ hình thành đó là khí
trơ nhẹ heli và hiđrô siêu nặng - triti - cực kỳ hiếm. Ở nhiệt độ rất cao, các
nguyên tử triti và đơteri (một đồng vị khác của hidro) sẽ kết hợp với nhau.
Quá trình đó kèm theo sự giải phóng một lượng năng lượng khổng lồ mà
thường được gọi là năng lượng nhiệt hạch.
Các phản ứng nhiệt hạch cực kỳ mãnh liệt sẽ xảy ra khi dùng nơtron bắn phá
liti đơteri - một hợp chất của đồng vị liti-6 với đơteri. Chất này được dùng
làm nguyên liệu hạt nhân trong các lò phản ứng liti, là những lò mà so với
những lò phản ứng urani thì có nhiều ưu điểm hơn: liti dễ kiếm và rẻ tiền
hơn nhiều so với urani, còn khi phản ứng thì không tạo ra các sản phẩm phân
hạch có tính phóng xạ và quá trình phản ứng dễ điều chỉnh hơn.
Liti-6 có khả năng bắt giữ các nơtron chậm khá tốt, đó là cơ sở để sử dụng
nó làm chất điều tiết cường độ các phản ứng diễn ra ngay cả trong các lò
phản ứng urani. Nhờ tính chất này mà đồng vị liti-6 còn được sử dụng trong
các lá chắn chống bức xạ và trong các bộ pin nguyên tử có thời hạn sử dụng
lâu dài. Trong tương lai không xa, liti - 6 rất có thể sẽ trở thành chất hấp thụ
nơtron chậm trong các khí cụ bay dùng năng lượng nguyên tử.
Cũng như một số kim loại kiềm khác, liti được sử dụng làm chất tải nhiệt
trong các thiết bị hạt nhân. Ở đây có thể dùng một đồng vị dễ kiếm hơn của
nó, đó là liti-7 (trong liti thiên nhiên, đồng vị này chiếm khoảng 93%). Khác
với “người em” nhẹ hơn của mình, đồng vị này không thể dùng làm nguyên
liệu để sản xuất triti, vì vậy mà nó không được quan tâm tới trong kỹ thuật
nhiệt hạch. Nhưng với vai trò là chất tải nhiệt thì nó lại tỏ ra rất đắc lực.
Nhiệt dung và độ dẫn nhiệt cao, nhiệt độ của trạng thái nóng chảy nằm trong
một khoảng rộng, độ nhớt không đáng kể và mật độ nhỏ - đó là những điều
giúp nó hoàn thành tốt nhiệm vụ này.
Trong thời gian gần đây, kĩ thuật tên lửa bắt đầu dành cho liti những địa vị
quan trọng. Muốn vượt qua lực hút của trái đất để vượt lên khoảng không
gian ngoài vũ trụ cần phải chi phí rất nhiều năng lượng. Chiếc tên lửa từng
đưa con tàu trở nhà du hành vũ trụ đầu tiên trên thế giới Iuri Gagarin lên quỹ
đạo có sáu động cơ với công suất tổng cộng là 20 triệu mã lực! Đó là công
suất của hai chục nhà máy thủy điện cỡ như Nhà máy thủy điện Đniep.
Tất nhiên, việc lựa chọn nhiên liệu cho tên lửa là một vấn đề cực kỳ quan
trọng. Cho đến nay, dầu hỏa (đúng là dầu hỏa già cả và tốt bụng) được oxi
hóa bởi oxi lỏng vẫn được coi là nhiên liệu hữu hiệu nhất. Khi đốt nhiên liệu
này, năng lượng phát ra lớn gấp hơn 1,5 lần so với khi cho nổ cũng một
lượng như vậy loại thuốc nổ Nitroglixerin là loại thuốc nổ mạnh nhất.
Việc sử dụng nhiên liệu kim loại có thể có những triển vọng tuyệt vời. Lần
đầu tiên cách đây hơn nửa thế kỷ, các nhà bác học Xô -viết nổi tiếng là F. A.
Txanđer và Iu. V. Conđrachiuk đã khởi xướng lý thuyết và phương pháp sử
dụng kim loại làm nhiên liệu cho động cơ tên lửa. Liti là một trong số những
kim loại thích hợp nhất cho mục đích này (chỉ có berili mới có thể “huênh
hoang” về suất tỏa nhiệt lớn). Ở Mỹ người ta đã công bố những phát minh về
nhiên liệu rắn dùng cho tên lửa trong đó chứa từ 51 đến 68% liti kim loại.
Một điều đáng chú ý là trong quá trình làm việc của các động cơ tên lửa, liti
lại phải chống chọi lại với... liti. Là một thành phần của nhiên liệu, nó cho
phép sản sinh ra nhiệt độ rất cao, còn các vật liệu gốm chứa liti (chẳng hạn
như stupalit) có
 





